Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng, đạt khoảng 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy ngành gỗ vẫn giữ được khả năng thích ứng trong bối cảnh sức mua tại một số thị trường lớn phục hồi chậm, chi phí sản xuất còn cao và các yêu cầu về nguồn gốc nguyên liệu, môi trường, phát thải ngày càng chặt chẽ.

Tuy nhiên, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cho thấy chất lượng tăng trưởng vẫn còn những vấn đề cần lưu ý. Trong khi dăm gỗ, gỗ, ván và một số sản phẩm trung gian tăng khá, xuất khẩu sản phẩm gỗ chế biến lại chưa phục hồi tương xứng. Đây là tín hiệu cho thấy ngành gỗ cần chuyển mạnh hơn từ khai thác lợi thế nguyên liệu và gia công sang chế biến sâu, thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu và làm chủ các khâu có giá trị cao trong chuỗi cung ứng.

Nội thất vẫn giữ vai trò chủ lực nhưng tỷ trọng giảm

Trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 5,57 tỷ USD. Đồ nội thất bằng gỗ tiếp tục là nhóm hàng lớn nhất, đạt khoảng 3,16 tỷ USD, chiếm 56,7% tổng kim ngạch.

Dù vẫn giữ vai trò chủ lực, giá trị xuất khẩu đồ nội thất bằng gỗ giảm 3,4% và tỷ trọng giảm so với mức 60,6% của cùng kỳ năm 2025. Diễn biến này cho thấy nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến sâu chưa phục hồi đồng đều.

Trong nhóm nội thất, ghế khung gỗ là mặt hàng nổi bật khi đạt khoảng 1,31 tỷ USD, tăng 8,7%. Ngược lại, nhiều nhóm hàng khác như nội thất phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ, nhà bếp và văn phòng đều giảm. Trong đó, đồ nội thất văn phòng giảm mạnh nhất, phản ánh sự thận trọng của thị trường đối với các khoản chi tiêu và đầu tư không thiết yếu.

Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng trị giá xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt khoảng 5,5 tỷ USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ, trong khi tổng kim ngạch gỗ và sản phẩm gỗ vẫn tăng. Điều này cho thấy động lực tăng trưởng của toàn ngành chưa chủ yếu đến từ sản phẩm hoàn thiện có giá trị gia tăng cao.

Nhóm nguyên liệu và sản phẩm trung gian tăng nhanh

Trái với sự phục hồi chậm của nhiều mặt hàng nội thất, nhóm nguyên liệu và bán thành phẩm ghi nhận mức tăng khá cao. Trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu dăm gỗ đạt khoảng 972,5 triệu USD, tăng 16,2% và chiếm 17,5% tổng kim ngạch toàn ngành.

Nhóm gỗ, ván và ván sàn đạt khoảng 826,3 triệu USD, tăng 19,5%; viên nén gỗ đạt khoảng 386,5 triệu USD, tăng 2,8%. Đây là những mặt hàng có vai trò quan trọng trong tiêu thụ gỗ rừng trồng, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy, vật liệu xây dựng, năng lượng sinh khối và các ngành công nghiệp chế biến tiếp theo.

Sự tăng trưởng của dăm gỗ, ván và viên nén là tín hiệu tích cực về thị trường. Tuy nhiên, nếu tỷ trọng nguyên liệu và sản phẩm trung gian tăng nhanh hơn sản phẩm hoàn thiện, phần giá trị lớn nhất của chuỗi sản xuất có thể tiếp tục nằm ở khâu chế biến, thiết kế, phân phối và xây dựng thương hiệu tại các quốc gia nhập khẩu.

Do đó, vấn đề không phải là hạn chế hoàn toàn xuất khẩu dăm gỗ hay sản phẩm sơ chế, mà cần tổ chức lại cơ cấu sử dụng nguyên liệu. Gỗ có đường kính lớn, thân thẳng và chất lượng tốt cần được ưu tiên cho sản xuất gỗ xẻ, ván kỹ thuật, đồ mộc, nội thất và cấu kiện. Gỗ nhỏ, cành, ngọn, mùn cưa và phụ phẩm có thể được sử dụng cho dăm gỗ, viên nén, ván dăm hoặc năng lượng sinh khối.

Chế biến sâu giúp nâng giá trị tài nguyên rừng

Giá trị của sản phẩm gỗ không chỉ được quyết định bởi khối lượng nguyên liệu. Phần giá trị lớn hơn được hình thành thông qua thiết kế, sấy và xử lý gỗ, gia công chính xác, hoàn thiện bề mặt, kiểm soát chất lượng, đóng gói, thương hiệu, phân phối và dịch vụ khách hàng.

Cùng một lượng gỗ, sản phẩm nội thất hoàn thiện có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn đáng kể so với việc bán dưới dạng gỗ nguyên liệu hoặc dăm gỗ. Chế biến sâu cũng tạo thêm việc làm trong các lĩnh vực kỹ thuật, thiết kế, quản lý chất lượng, vận hành máy móc, logistics, thương mại điện tử và xúc tiến thị trường.

Đối với người trồng rừng, sự phát triển của công nghiệp chế biến sâu tạo ra nhu cầu rõ ràng hơn đối với gỗ lớn, gỗ có chất lượng và nguồn gốc minh bạch. Đây là động lực để kéo dài chu kỳ kinh doanh, sử dụng giống tốt, thực hiện tỉa cành, tỉa thưa, phát triển chứng chỉ quản lý rừng bền vững và nâng cao giá trị thu được trên một đơn vị diện tích.

Như vậy, chế biến sâu không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ mà còn thúc đẩy thay đổi toàn bộ chuỗi từ giống, trồng rừng, khai thác đến tiêu thụ.

Chuyển từ gia công sang thiết kế và thương hiệu

Ngành gỗ Việt Nam có năng lực sản xuất và gia công xuất khẩu lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào mẫu mã, đơn hàng và hệ thống phân phối của đối tác nước ngoài. Trong mô hình này, doanh nghiệp chủ yếu tạo giá trị ở khâu sản xuất, trong khi phần giá trị cao hơn từ thiết kế, thương hiệu, marketing và phân phối vẫn thuộc về khách hàng quốc tế.

Chuyển sang chế biến sâu vì vậy không chỉ là đầu tư thêm máy móc hoặc bổ sung công đoạn sản xuất. Doanh nghiệp cần nâng cao khả năng nghiên cứu thị trường, phát triển mẫu mã, thiết kế bộ sưu tập và tạo ra sản phẩm phù hợp với từng nhóm khách hàng.

Xu hướng đô thị hóa, diện tích nhà ở thu hẹp và nhu cầu sử dụng không gian linh hoạt đang mở rộng thị trường cho nội thất lắp ráp, nội thất đa năng, sản phẩm tiết kiệm diện tích và đồ gỗ có khả năng cá nhân hóa. Đây là phân khúc mà doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn nếu kết hợp được năng lực sản xuất với thiết kế, công nghệ và thương hiệu.

Công nghệ quyết định khả năng chế biến sâu

Sản xuất sản phẩm hoàn thiện đòi hỏi độ chính xác, tính đồng đều và khả năng kiểm soát cao hơn nhiều so với sản xuất nguyên liệu. Doanh nghiệp cần đầu tư công nghệ sấy, xử lý vật liệu, máy CNC, dây chuyền tự động, phần mềm thiết kế và hệ thống quản lý sản xuất.

Công nghệ số giúp tối ưu phương án cắt phôi, quản lý định mức, giảm hao hụt, kiểm soát tiến độ và truy xuất từng lô nguyên liệu. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ nhận diện khuyết tật, phân loại nguyên liệu, dự báo bảo trì thiết bị và phân tích xu hướng tiêu dùng.

Đầu tư công nghệ không nhất thiết chỉ dành cho những doanh nghiệp lớn. Các trung tâm thiết kế, tạo mẫu, kiểm nghiệm, sấy và gia công dùng chung có thể giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm chi phí đầu tư ban đầu, từng bước chuyển từ sơ chế sang sản xuất sản phẩm có mức độ hoàn thiện cao hơn.

Nguồn nguyên liệu phải hợp pháp và có khả năng truy xuất

Các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, tính hợp pháp của gỗ và tác động của sản phẩm đối với rừng. Vì vậy, chế biến sâu phải được xây dựng trên nền tảng vùng nguyên liệu hợp pháp, ổn định và có khả năng truy xuất.

Doanh nghiệp cần biết nguyên liệu đến từ lô rừng nào, thuộc chủ rừng nào, được khai thác và vận chuyển theo hồ sơ ra sao. Dữ liệu này cần được quản lý xuyên suốt từ vùng trồng đến nhà máy và sản phẩm cuối cùng.

Việc xây dựng bản đồ ranh giới rừng, mã số vùng trồng, hồ sơ điện tử và chứng chỉ quản lý rừng bền vững sẽ giúp giảm rủi ro cho doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để sản phẩm gỗ Việt Nam tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao.

Nguồn gỗ minh bạch không chỉ phục vụ tuân thủ pháp luật. Đây còn là yếu tố tạo niềm tin, nâng giá trị thương hiệu và thu hút các nhà đầu tư chế biến sâu có chiến lược dài hạn.

Phát triển theo mô hình kinh tế tuần hoàn

Chế biến sâu cần đi cùng với sử dụng tổng hợp và tiết kiệm nguyên liệu. Gỗ chất lượng tốt được sử dụng cho đồ mộc, nội thất, ván và cấu kiện; phần gỗ nhỏ hơn có thể dùng cho ván dăm, ván sợi hoặc sản phẩm ghép; mùn cưa, dăm bào và phụ phẩm được tận dụng để sản xuất viên nén, nhiên liệu sinh khối hoặc vật liệu mới.

Mô hình này giúp hạn chế chất thải, nâng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu và tạo thêm nguồn thu từ phụ phẩm. Dăm gỗ và viên nén khi đó không cạnh tranh trực tiếp với nguyên liệu cho chế biến sâu, mà trở thành một mắt xích của chuỗi sản xuất tuần hoàn.

Việc hình thành các cụm liên kết giữa nhà máy đồ gỗ, cơ sở sản xuất ván, trung tâm sấy, doanh nghiệp logistics và cơ sở tận dụng phụ phẩm sẽ giúp giảm chi phí, tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả toàn chuỗi.

Cơ hội đối với Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ

Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ có lợi thế lớn về diện tích rừng trồng và khả năng cung cấp nguyên liệu. Tuy nhiên, giá trị kinh tế sẽ còn hạn chế nếu phần lớn gỗ chỉ được khai thác trong chu kỳ ngắn, sản xuất dăm hoặc vận chuyển sang địa phương khác để chế biến.

Hướng đi cần thiết là phát triển rừng gỗ lớn, nâng cao chất lượng giống, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và hình thành các chuỗi liên kết ổn định giữa người trồng rừng với doanh nghiệp chế biến.

Cùng với đó, cần thu hút các dự án phù hợp với đặc điểm nguyên liệu của vùng như sản xuất ván kỹ thuật, ván ghép thanh, cửa, sàn, cấu kiện nội thất, đồ gỗ lắp ráp, sản phẩm ngoài trời và các dòng sản phẩm sử dụng gỗ rừng trồng.

Khu Lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ có thể đóng vai trò hạt nhân trong quá trình này. Khu không chỉ là địa điểm thu hút nhà máy mà còn cần hình thành hệ sinh thái hỗ trợ gồm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, thiết kế sản phẩm, kiểm nghiệm, đào tạo nhân lực, truy xuất nguồn gốc và kết nối vùng nguyên liệu với thị trường.

Cơ cấu xuất khẩu gỗ năm 2026 cho thấy ngành vẫn duy trì được tăng trưởng, nhưng động lực từ sản phẩm chế biến sâu chưa tương xứng với tiềm năng. Dăm gỗ, ván và viên nén tiếp tục có vai trò quan trọng, song cần được đặt trong một cơ cấu sử dụng nguyên liệu hợp lý và tuần hoàn.

Chuyển mạnh sang chế biến sâu là con đường để nâng cao giá trị tài nguyên rừng, tạo thêm việc làm, thúc đẩy rừng gỗ lớn và tăng khả năng chống chịu trước biến động thị trường. Đối với Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ, đây cũng là yêu cầu quan trọng để chuyển lợi thế về diện tích và sản lượng gỗ thành lợi thế về công nghệ, sản phẩm và giá trị kinh tế.

BLNCNC