Năm 2026 có ý nghĩa quan trọng đối với ngành lâm nghiệp Nghệ An khi tỉnh bước vào giai đoạn triển khai các định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn bảo vệ rừng với nâng cao giá trị kinh tế rừng, phát triển vùng nguyên liệu, chế biến lâm sản và mở rộng các cơ chế tài chính xanh. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe và áp lực bảo vệ tài nguyên rừng ngày càng lớn, lâm nghiệp không còn chỉ là lĩnh vực quản lý, bảo vệ tài nguyên, mà đang từng bước trở thành một ngành kinh tế xanh, có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững của tỉnh.

Nghệ An là địa phương có tiềm năng lớn về lâm nghiệp, với diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, hệ sinh thái đa dạng, nguồn nguyên liệu rừng trồng phong phú và nhiều dư địa phát triển công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ. Những năm gần đây, ngành lâm nghiệp của tỉnh đã có sự chuyển biến rõ nét theo hướng nâng cao chất lượng rừng, phát triển rừng gỗ lớn, mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững, đồng thời từng bước hình thành các chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ. Đây là nền tảng quan trọng để Nghệ An tiếp tục nâng cao giá trị ngành lâm nghiệp trong năm 2026 và những năm tiếp theo.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của lâm nghiệp Nghệ An năm 2026 là bảo vệ vững chắc diện tích rừng hiện có. Bảo vệ rừng vẫn là yêu cầu nền tảng, bởi mọi định hướng phát triển kinh tế rừng, dịch vụ môi trường rừng, tín chỉ carbon, chế biến lâm sản hay du lịch sinh thái đều phải bắt đầu từ việc giữ được rừng, nâng cao chất lượng rừng và bảo đảm tính bền vững của hệ sinh thái rừng. Công tác quản lý, bảo vệ rừng cần tiếp tục được triển khai đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở, phát huy trách nhiệm của chính quyền địa phương, chủ rừng, lực lượng kiểm lâm, cộng đồng dân cư và người dân sống gần rừng.
Trong điều kiện thời tiết cực đoan, nắng nóng gay gắt và nguy cơ cháy rừng có xu hướng gia tăng, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục là nhiệm vụ cấp bách. Công tác này cần được thực hiện theo phương châm phòng là chính, lấy cơ sở làm trọng tâm, tăng cường tuần tra, kiểm soát các khu vực trọng điểm, quản lý chặt chẽ việc sử dụng lửa trong và ven rừng, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phương án ứng phó kịp thời khi xảy ra cháy rừng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, camera giám sát, bản đồ cảnh báo nguy cơ cháy rừng, thông tin dự báo thời tiết và hệ thống cảnh báo sớm để nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ rừng, Nghệ An đặt mục tiêu phát triển rừng trồng theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững hơn. Việc trồng rừng không chỉ nhằm tăng diện tích hay sản lượng gỗ khai thác, mà cần hướng đến nâng cao năng suất, chất lượng gỗ, kéo dài chu kỳ kinh doanh, phát triển rừng gỗ lớn, sử dụng giống cây lâm nghiệp có năng suất cao, thích ứng với điều kiện sinh thái của từng vùng. Đây là yêu cầu quan trọng để chuyển từ mô hình trồng rừng nguyên liệu ngắn ngày, giá trị thấp sang mô hình rừng sản xuất chất lượng cao, phục vụ chế biến sâu và đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường trong nước, quốc tế.
Phát triển rừng có chứng chỉ quản lý bền vững là một hướng đi cần tiếp tục được ưu tiên. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu lớn ngày càng quan tâm đến nguồn gốc gỗ hợp pháp, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và xã hội, chứng chỉ rừng không chỉ là công cụ nâng cao giá trị gỗ rừng trồng, mà còn là điều kiện để doanh nghiệp chế biến lâm sản tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đối với người trồng rừng, chứng chỉ rừng giúp thay đổi phương thức sản xuất, quản lý rừng bài bản hơn, nâng cao khả năng liên kết với doanh nghiệp và tạo cơ hội bán sản phẩm với giá trị tốt hơn.
Một điểm mới đáng chú ý trong phát triển lâm nghiệp hiện nay là sự mở rộng của các cơ chế tài chính xanh, trong đó có chi trả dịch vụ môi trường rừng và nguồn lực từ thỏa thuận chi trả giảm phát thải. Thực tiễn triển khai ERPA tại Nghệ An cho thấy, rừng có thể tạo ra nguồn tài chính cụ thể thông qua kết quả bảo vệ rừng, giảm phát thải khí nhà kính và duy trì chức năng sinh thái. Đây là hướng tiếp cận mới, giúp người dân, cộng đồng và chủ rừng nhận thức rõ hơn rằng bảo vệ rừng không chỉ là trách nhiệm, mà còn có thể tạo ra lợi ích kinh tế, góp phần cải thiện sinh kế và ổn định đời sống ở khu vực miền núi.
Từ góc độ phát triển kinh tế, lâm nghiệp Nghệ An đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang phát triển chuỗi giá trị. Nếu chỉ dừng lại ở trồng rừng, khai thác và bán nguyên liệu thô, giá trị thu được từ rừng còn hạn chế. Ngược lại, khi vùng nguyên liệu được gắn với chế biến sâu, sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo, viên nén sinh học, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu dưới tán rừng và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, kinh tế rừng sẽ tạo ra nguồn thu lớn hơn, việc làm ổn định hơn và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng xanh của địa phương.
Để làm được điều đó, cần hình thành các chuỗi liên kết chặt chẽ giữa người trồng rừng, hợp tác xã, chủ rừng, doanh nghiệp chế biến, cơ quan quản lý và các tổ chức khoa học công nghệ. Người trồng rừng cần được hỗ trợ về giống, kỹ thuật, chứng chỉ, thông tin thị trường và liên kết tiêu thụ. Doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định, hợp pháp, có khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường. Cơ quan quản lý cần tạo môi trường thuận lợi về quy hoạch, dữ liệu, hạ tầng, chính sách hỗ trợ và kiểm soát chất lượng chuỗi cung ứng. Khi các chủ thể này được kết nối hiệu quả, kinh tế rừng sẽ chuyển từ sản xuất phân tán sang phát triển theo chuỗi giá trị hiện đại.
Trong tiến trình đó, Khu Lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới mô hình phát triển lâm nghiệp của Nghệ An và khu vực. Với định hướng phát triển giống cây lâm nghiệp công nghệ cao, trồng rừng thâm canh, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ, Khu có thể trở thành hạt nhân kết nối giữa khoa học công nghệ, vùng nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến và thị trường. Việc ứng dụng công nghệ cao vào chọn tạo giống, quản lý rừng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và sử dụng hiệu quả phụ phẩm lâm nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của ngành.
Lâm nghiệp hiện đại không chỉ dừng lại ở bảo vệ rừng, mà còn bao gồm quản lý rừng bằng dữ liệu, phát triển carbon rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng, chế biến sâu, sản xuất xanh và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Vì vậy, phát triển lâm nghiệp bền vững năm 2026 cần được nhìn nhận như một quá trình chuyển đổi toàn diện: từ tư duy quản lý tài nguyên sang tư duy phát triển kinh tế rừng; từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi; từ khai thác nguyên liệu sang chế biến sâu; từ bảo vệ rừng bằng phương thức truyền thống sang quản lý rừng bằng công nghệ và dữ liệu.
Có thể thấy, năm 2026 mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít yêu cầu mới đối với ngành lâm nghiệp Nghệ An. Bảo vệ vững chắc diện tích rừng hiện có, nâng cao chất lượng rừng trồng, phát triển rừng gỗ lớn, mở rộng chứng chỉ quản lý rừng bền vững, khai thác hiệu quả dịch vụ môi trường rừng, thúc đẩy chế biến sâu và ứng dụng công nghệ cao là những nhiệm vụ có tính liên kết chặt chẽ với nhau. Nếu được triển khai đồng bộ, lâm nghiệp Nghệ An sẽ không chỉ giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học, mà còn trở thành một ngành kinh tế xanh, hiện đại, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ.
BLNCNC