Rừng trồng đang cung cấp nguồn nguyên liệu ngày càng quan trọng cho công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Tuy nhiên, nếu phần lớn gỗ sau khai thác chỉ được sử dụng để sản xuất dăm, viên nén hoặc các sản phẩm sơ chế, giá trị tạo ra trên một đơn vị tài nguyên vẫn còn hạn chế.
Một hướng phát triển đáng chú ý hiện nay là sử dụng công nghệ để “nâng cấp” gỗ rừng trồng thành các loại vật liệu có tính năng và giá trị cao hơn, trong đó gỗ kỹ thuật và gỗ biến tính đang mở ra nhiều khả năng mới.
Đây cũng là hướng phù hợp với Nghệ An khi tỉnh đang thúc đẩy rừng gỗ lớn, chế biến sâu và phát triển Khu Lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ.

Từ cây gỗ nhỏ đến vật liệu có tính năng cao
Gỗ rừng trồng có ưu điểm là nguồn nguyên liệu tái tạo, chu kỳ sản xuất tương đối nhanh và có khả năng cung ứng với quy mô lớn. Tuy nhiên, một số loại gỗ rừng trồng có hạn chế về đường kính, kích thước, độ ổn định hoặc tính đồng đều nếu sử dụng trực tiếp cho những sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật cao.
Công nghệ chế biến có thể khắc phục một phần những hạn chế đó.
Thay vì sử dụng nguyên cây gỗ theo kích thước tự nhiên, gỗ có thể được xẻ thành thanh, lớp hoặc tấm; sau đó lựa chọn, sấy, ghép, ép và liên kết theo một cấu trúc được thiết kế trước. Từ những thành phần tương đối nhỏ có thể tạo ra sản phẩm có kích thước lớn hơn, đồng đều hơn và phù hợp với yêu cầu sử dụng cụ thể.
Đó là nguyên lý cơ bản của nhiều loại gỗ kỹ thuật – engineered wood.
Các sản phẩm tiêu biểu gồm gỗ ghép thanh, gỗ nhiều lớp LVL, dầm gỗ dán Glulam và gỗ ghép lớp chéo CLT. Trong đó, Glulam và CLT đang được nhiều quốc gia sử dụng trong hệ kết cấu và công trình xây dựng bằng gỗ quy mô lớn, thường được nhắc tới trong nhóm vật liệu “mass timber”.
Thay vì chỉ nhìn cây keo, bạch đàn hoặc các loại gỗ rừng trồng theo đường kính ban đầu, công nghệ cho phép nhìn chúng như nguồn đầu vào để tạo ra một thế hệ vật liệu mới.
Gỗ biến tính: thay đổi tính chất thay vì chỉ thay đổi hình dạng
Nếu gỗ kỹ thuật chủ yếu tạo ra sản phẩm mới bằng cách tổ hợp các thanh, lớp hoặc tấm gỗ, thì gỗ biến tính hướng đến thay đổi một số tính chất của chính vật liệu gỗ.
Một trong những phương pháp được biết đến rộng rãi là biến tính nhiệt. Gỗ được xử lý trong điều kiện nhiệt độ và môi trường được kiểm soát nhằm làm thay đổi một số đặc tính vật liệu, qua đó cải thiện độ ổn định kích thước, giảm khả năng hút ẩm và nâng cao khả năng sử dụng trong những điều kiện phù hợp.
Ngoài biến tính nhiệt còn có các hướng biến tính bằng hóa học, ngâm tẩm hoặc các công nghệ khác tùy mục tiêu sản phẩm.
Điểm quan trọng là sau biến tính, một loại gỗ có giá trị sử dụng ban đầu chưa cao có thể được mở rộng phạm vi ứng dụng cho sàn, cửa, ốp tường, sản phẩm ngoài trời, nội thất hoặc các nhóm sản phẩm có yêu cầu cao hơn về độ ổn định.
Việt Nam hiện đã có các tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến gỗ biến tính. Danh mục tiêu chuẩn công bố có TCVN 14259:2024 về gỗ biến tính dùng cho đồ gỗ và TCVN 14275:2024 về gỗ biến tính nhiệt, cho thấy lĩnh vực này đang từng bước được chuẩn hóa về mặt kỹ thuật.
Vì sao đây là hướng nâng giá trị rừng trồng?
Điểm hấp dẫn nhất của gỗ kỹ thuật và gỗ biến tính nằm ở khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một nguồn tài nguyên.
Một cây gỗ nếu bán trực tiếp dưới dạng nguyên liệu chỉ tạo ra giá trị ở khâu khai thác. Nhưng khi được phân loại, sấy, xử lý, ghép, ép, biến tính và sản xuất thành cấu kiện hoặc sản phẩm hoàn thiện, giá trị tiếp tục được tạo ra qua nhiều công đoạn.
Quá trình đó kéo theo nhu cầu về máy móc, thiết kế sản phẩm, keo và vật liệu liên kết, kiểm nghiệm, kiểm soát chất lượng, kỹ sư công nghệ và lao động kỹ thuật. Giá trị vì vậy được giữ lại nhiều hơn tại địa phương thay vì chuyển cùng nguyên liệu thô sang nơi khác.
Quan trọng hơn, công nghệ có thể giúp sử dụng nguyên liệu hiệu quả hơn. Những thanh gỗ có kích thước nhỏ nhưng bảo đảm chất lượng vẫn có thể được ghép thành sản phẩm lớn; những phần gỗ tốt được ưu tiên cho sản phẩm giá trị cao, trong khi phụ phẩm tiếp tục được sử dụng cho ván nhân tạo, viên nén hoặc năng lượng sinh khối.
Đây chính là logic của chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn trong ngành gỗ.
Gỗ kỹ thuật mở thêm thị trường ngoài đồ nội thất
Phần lớn khi nói đến chế biến sâu, chúng ta thường nghĩ đến bàn, ghế, giường, tủ và các sản phẩm nội thất. Nhưng gỗ kỹ thuật mở rộng phạm vi của ngành gỗ sang lĩnh vực vật liệu và xây dựng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường năm 2026 đã đề cập mass timber như một hướng mới trong chuyển đổi xanh của ngành gỗ. Các vật liệu như CLT và Glulam có lợi thế về khả năng chế tạo sẵn, trọng lượng kết cấu tương đối thấp và khả năng lưu giữ carbon trong sản phẩm trong thời gian sử dụng.
Điều này mở ra một thị trường hoàn toàn khác so với xuất khẩu đồ gỗ truyền thống: gỗ trở thành vật liệu xây dựng công nghiệp.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, ứng dụng mass timber còn rất hạn chế. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến kết cấu, liên kết, độ ẩm và đặc biệt là phòng cháy, chữa cháy cần tiếp tục được hoàn thiện; năng lực thiết kế, kiểm nghiệm và thi công cũng phải được hình thành đồng bộ.
Do vậy, đây chưa phải thị trường có thể mở rộng ngay trong thời gian ngắn, nhưng là hướng cần nghiên cứu nếu Việt Nam muốn tiến lên những phân khúc có hàm lượng công nghệ cao hơn.
Nguyên liệu vẫn là điều kiện đầu tiên
Công nghệ có thể nâng cấp gỗ nhưng không thể thay thế hoàn toàn chất lượng nguyên liệu.
Muốn sản xuất gỗ kỹ thuật ổn định, doanh nghiệp vẫn cần nguồn gỗ có tính chất tương đối đồng đều, được phân loại, sấy và kiểm soát tốt. Đối với nhiều sản phẩm, chất lượng mối dán, độ ẩm, khuyết tật và tính chất cơ học của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thành phẩm.
Vì vậy, phát triển gỗ kỹ thuật phải bắt đầu từ vùng trồng.
Giống tốt, thâm canh, tỉa cành, kéo dài chu kỳ đối với những diện tích phù hợp và phát triển rừng gỗ lớn sẽ giúp tăng tỷ lệ nguyên liệu có thể đưa vào chế biến giá trị cao.
Thực tế tại Nghệ An, một số đơn vị đã phát triển rừng gỗ lớn để cung cấp nguyên liệu cho gỗ xẻ và gỗ ghép thanh, đồng thời tận dụng cành, ngọn cho sản xuất dăm. Đây chính là cách sử dụng nguyên liệu theo cấp chất lượng thay vì đưa toàn bộ cây gỗ vào một mục đích duy nhất.
Cơ hội đối với Nghệ An
Nghệ An có lợi thế về diện tích rừng trồng, sản lượng khai thác lớn và đã hình thành hệ thống doanh nghiệp chế biến với nhiều nhóm sản phẩm khác nhau. Tỉnh cũng đang xác định phát triển công nghiệp chế biến lâm sản theo hướng bền vững, hiện đại, nâng cao giá trị thay vì chỉ mở rộng công suất sơ chế.
Trong bối cảnh đó, gỗ kỹ thuật và gỗ biến tính là những hướng có thể được nghiên cứu theo từng bước.
Trước mắt, những sản phẩm gần với năng lực hiện tại như gỗ ghép thanh, ván ghép, cửa, sàn và các cấu kiện nội thất có thể tiếp tục được nâng cấp về công nghệ, chất lượng và thiết kế.
Bước tiếp theo có thể nghiên cứu các dòng vật liệu có hàm lượng công nghệ cao hơn như LVL, Glulam, gỗ biến tính hoặc các cấu kiện gỗ kỹ thuật.
Đối với CLT và các hệ mass timber quy mô lớn, cần tiếp cận theo hướng nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng năng lực trước khi đầu tư sản xuất đại trà, bởi yêu cầu về tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, kết cấu và thị trường cao hơn đáng kể.
Cách tiếp cận này sẽ giúp tránh tình trạng đầu tư công nghệ theo phong trào nhưng không có nguồn nguyên liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc đầu ra phù hợp.
Khu Lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao có thể trở thành nơi thử nghiệm công nghệ mới
Quy hoạch Khu Lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2045 xác định chế biến gỗ và lâm sản là một trong những lĩnh vực trọng tâm, gắn với nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ.
Đây là không gian phù hợp để từng bước hình thành các mô hình nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm về gỗ kỹ thuật, gỗ biến tính và vật liệu mới từ gỗ rừng trồng.
Khu có thể kết nối viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để đánh giá đặc tính của các nguồn gỗ phổ biến tại Nghệ An; xác định công nghệ sấy, ghép, biến tính phù hợp; thử nghiệm sản phẩm và kiểm tra các chỉ tiêu cơ lý trước khi thương mại hóa.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng các dịch vụ dùng chung về kiểm nghiệm vật liệu, thiết kế, tạo mẫu và chuyển giao công nghệ. Đây là những hạ tầng mà doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tự đầu tư đầy đủ nhưng lại cần thiết để phát triển sản phẩm mới.
Nếu được tổ chức tốt, Khu không chỉ thu hút các nhà máy chế biến mà còn có thể trở thành nơi tạo ra công nghệ và sản phẩm mới cho ngành gỗ Bắc Trung Bộ.
Từ bán nhiều gỗ sang tạo nhiều giá trị từ gỗ
Nguồn nguyên liệu rừng trồng là lợi thế quan trọng của Nghệ An, nhưng lợi thế đó sẽ giảm dần nếu cạnh tranh chỉ dựa vào sản lượng và giá nguyên liệu.
Bước phát triển tiếp theo phải là sử dụng khoa học công nghệ để tăng giá trị trên mỗi mét khối gỗ.
Gỗ kỹ thuật giúp vượt qua một phần giới hạn về kích thước tự nhiên của cây gỗ. Gỗ biến tính giúp cải thiện một số đặc tính và mở rộng phạm vi sử dụng. Chế biến sâu giúp biến nguyên liệu thành sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật, thiết kế và giá trị thương mại cao hơn.
Khi kết hợp với rừng gỗ lớn, chứng chỉ quản lý rừng bền vững, truy xuất nguồn gốc và kinh tế tuần hoàn, các công nghệ này có thể hình thành một chuỗi giá trị mới cho gỗ rừng trồng.
Đối với Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ, mục tiêu vì vậy không chỉ là trồng được nhiều rừng và khai thác được nhiều gỗ, mà phải tiến tới tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi cây gỗ được khai thác.
Đó cũng chính là hướng đi phù hợp để công nghiệp chế biến lâm sản chuyển từ lợi thế tài nguyên sang lợi thế về công nghệ, sản phẩm và năng lực cạnh tranh.
BLNCNC