Ngày 12/01/2017 Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 13-CT/TW, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể nhân dân quán triệt và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nhiệm vụ. Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 13-CT/TW, diễn biến an ninh rừng trên địa bàn Nghệ An chuyển biến toàn diện, tình trạng vi phạm lâm luật giảm mạnh, vốn rừng được phát huy.
Với 6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được nêu trong Chỉ thị 13-CT/TW, UBND tỉnh Nghệ An đã ban Kế hoạch số 741 ngày 08/12/2017 xác định 6 nhiệm vụ, giải pháp chính, đồng thời chia ra 32 nhiệm vụ cụ thể, cho từng lĩnh vực, qua đó phân công cho các sở, ngành, các đơn vị liên quan.

Ông Hoàng Nghĩa Hiếu – Phó Bí thư tỉnh ủy phát biểu tại Hội nghị (tư liệu)
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, ông Hoàng Nghĩa Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Nghệ An có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất cả nước với trên 1,16 triệu héc ta, chiếm 71,6% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Độ che phủ rừng năm 2022 đạt 58,41%, trữ lượng gỗ hiện có khoảng 91 triệu m3, trên 1,94 tỷ cây tre, mét, rừng có tính đa dạng sinh học cao.
Do đó, Phó Bí thư Tỉnh ủy đề nghị các bên liên quan phải xem việc phát triển kinh tế lâm nghiệp là một lợi thế, từ đó phải luôn đồng hành, tạo điều kiện cho các chủ rừng phát huy nhiệm vụ chuyên môn; Phải xác định bảo vệ và phát triển rừng là một giải pháp quan trọng, vừa tạo việc làm, nâng cao thu nhập lại góp phần giữ vững an ninh quốc phòng.
Công tác tuần tra bảo vệ rừng: (ảnh Chí Việt)
Điều đặc biệt trong thời gian thực hiện Chỉ thị 13-CT/TW, rừng Nghệ An từ chỗ chưa có bất kỳ diện tích nào được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững thì đến nay đã có trên 15.000 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, đồng nghĩa giá trị rừng đã được công nhận. Xây dựng và triển khai thực hiện đề án giống cây lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa để quản lý chặt chẽ nguồn giống và nâng cao chất lượng giống. Chú trọng phát triển trồng cây lâm sản ngoài gỗ, nhất là cây dược liệu, dưới tán rừng để nâng cao giá trị gia tăng kinh doanh lâm nghiệp. Bên cạnh đó Kim ngạch xuất khẩu lâm sản nhờ đó tăng mạnh qua từng năm: Năm 2017 đạt 127,723 triệu USD; năm 2018 đạt 158,298 triệu USD; năm 2019 đạt 149,385 triệu USD; năm 2020 đạt trên 145,084 triệu USD; năm 2021 đạt 184,800 triệu USD; năm 2022 đạt 330 triệu USD (nguồn cục thống kê).
Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 13-CT/TW số vụ xâm phạm đến rừng có chiều hướng giảm rõ rệt. Theo số liệu thống kê, 5 năm qua các lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ, xử lý tổng cộng 4.673 vụ vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng. Đã xử lý vi phạm hành chính 4.594 vụ, xử lý hình sự 79 vụ, truy tố xét xử 90 bị can, tịch thu hơn 6.033 m3 gỗ các loại cùng 1.713 con động vật. Thu nộp ngân sách nhà nước hơn 38 tỷ đồng. Nguồn chi cục kiểm lâm.

Ông Phùng Thành Vinh – Giám đốc Sở NN&PTNT (tư liệu)
Giai đoạn 2017-2022, bình quân toàn tỉnh chỉ xảy ra 778 vụ/năm, giảm hơn 325 vụ/năm (giảm 30,12%) so với giai đoạn 2011- 2016 cho thấy nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Nghệ An đang đi đúng hướng.
Tại hội nghị, Giám đốc Sở NN&PTNT, ông Phùng Thành Vinh cho biết: “Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW, Nghệ An đã đạt được những kết quả quan trọng, các nội dung của Chỉ thị đã được triển khai, thực hiện xuyên suốt, được các cấp, các ngành, chính quyền địa phương quan tâm, chủ rừng và nhân dân đồng tình hưởng ứng. Tất cả đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn”. Công tác tuần tra, bảo vệ rừng phần nào giảm tải được áp lực sau thực hiện Chỉ thị 13-CT/TW.
Một số bài học kinh nghiệm triển khai thực hiện Chỉ thị 13-CT/TW: Một là, công tác BV&PTR phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, toàn diện của cấp ủy Đảng; chỉ đạo, điều hành, thực hiện quyết liệt của chính quyền địa phương; tham mưu đắc lực của các cấp, các ngành; sự vào cuộc thực sự của cả hệ thống chính trị; tạo được sự đồng thuận của quần chúng nhân dân. Hai là, trong chỉ đạo điều hành phải chọn những việc trọng tâm, địa bàn trọng điểm, tránh dàn trải; tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc nổi cộm; tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc cơ sở để có những giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả; giao rõ trách nhiệm cho người đứng đầu địa phương, đơn vị, chủ rừng chịu trách nhiệm trong công tác QLBV&PTR. Ba là, làm tốt công tác khuyến lâm, đưa các ứng dụng khoa học công nghệ vào BV&PTR, giúp người dân phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, làm giàu từ rừng, gắn bó người dân với rừng. Bốn là, xây dựng các chương trình, dự án, chính sách đặc thù của tỉnh để tạo động lực thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp phát triển; cùng với việc phải tích cực tuyên truyền sâu rộng công tác QLBV&PTR, bảo tồn đa dạng sinh học để người dân tích cực tham gia.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sự phối hợp tích cực, đồng bộ của các ban, ngành liên quan, chính quyền địa phương, các đoàn thể chính trị – xã hội, các đơn vị chủ rừng và người dân gần rừng đã nâng cao hiệu quả công tác QLBV&PTR. Trách nhiệm người đứng đầu chính quyền các cấp, các tổ chức ban ngành được xác định rõ ràng và được thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Thanh Sơn


